
Trường THPT Hoàng Lê Kha của chúng tôi ngày ấy là trường huyện, nằm giữa thị trấn Hà Trung, Thanh Hóa. Học sinh từ nhiều xã chung quanh về học. Như tôi, mỗi ngày đạp xe chừng mười lăm cây số mới tới lớp. Tinh sương, những hàng xe đạp nối nhau trên huyện lộ, áo trắng lấp loáng qua bờ tre, cánh đồng. Tuổi học trò trường huyện cũng có vẻ náo nhiệt riêng. Chúng tôi mang tới trường lớp đủ thứ chuyện tuổi mới lớn. Đứa học khá, đứa học bình thường, đứa thì chỉ cần thầy cô không để ý chút đã lách ra khỏi lớp. Hầu như hôm nào trường cũng có học sinh trốn học, chạy chơi trên đường tàu, thậm chí chui vào chuồng lợn nhà dân đánh bài, rồi internet bắt đầu rộ lên, quán điện tử mang sức hút khó cưỡng đối với đám tinh nghịch.
Năm ấy, cô Nguyễn Thị Quế về trường nhận công tác sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội. Cô còn rất trẻ. Trong kí ức tôi, dáng cô cao cao, mảnh mai, dịu dàng trên chiếc xe đạp mi-ni đến trường. Cô ăn mặc giản dị, gương mặt lúc nào cũng mộc mạc, sáng trong, nhưng không vì thế mà chúng tôi dễ “qua mặt” được. Một cô giáo mới ra trường, lần đầu làm chủ nhiệm, lại nhận ngay một lớp nhiều học sinh cá biệt. Cô dạy Văn và đương nhiên những năm đầu tiên ấy, công việc của cô ngoài sách vở, bài giảng còn là học trò. Đứa nào nghỉ học, cô hỏi han, bạn bè giấu giếm cho nhau, cô liên hệ người nhà. Cũng có trường hợp bố mẹ còn chẳng biết con mình ở đâu, sau giờ giảng, cô đạp xe đi tìm. Nhà học sinh ở xã này, xã khác, con đường cô qua mỗi lúc thêm dài và vòng vo, thậm chí nguy hiểm.

Những lần đi tìm trò, đạp xe hết đoạn đường thẳng, cô dựng dưới gốc cây, thường là gốc bàng già bên đường hoặc cây nhãn xù xì mà người dân thị trấn gọi là nhãn tổ. Xe nghiêng nhẹ, bánh dính bụi đường, tay lái vắt chiếc túi nhỏ của cô. Những con ngõ thị trấn ngày ấy khá hẹp, có đoạn đất đá lổn nhổn, hai bên là tường thấp, vài mái nhà cũ nằm khuất sau vườn cây. Cô đi sâu vào trong, vừa đi vừa hỏi. Gặp ai cô cũng vân vi: “Bác ơi! Bác làm ơn có thấy mấy đứa học sinh của cháu đi vào đây không?”. Người ta chỉ tay về phía cuối ngõ. Cô lại đi. Hết ngõ này sang ngõ khác, qua những cánh cổng khép hờ, qua cả những nơi mà lũ trò tưởng chẳng ai biết mình đang ở đó. Có hôm, cô bước vào quán game. Trong căn phòng tối, ánh sáng từ màn hình xanh nhấp nháy trên gương mặt đang tuổi lớn. Cô đứng đó, mặt nghiêm trang. Chẳng cần phân bua nhiều, đứa nào đứa nấy đều biết chuyện gì sẽ đến. Tất nhiên, cô không làm ầm lên, chỉ bảo trò đứng dậy, đi về. Xe đạp của cô vẫn dựng dưới gốc cây ngoài đường. Trò đi trước, cô lặng lẽ bước sau…
Tôi cũng không sao quên được những buổi học thêm trong căn phòng trọ nhỏ gần trường của cô. Nhóm học sinh ngồi kề nhau quanh mặt bàn cũ, sách vở mở ra, tiếng cô giảng bài hòa với tiếng xe cộ ngoài đường. Phần lớn đó là những đứa học yếu, lại nghịch ngợm, nên để ngồi yên hết buổi đã là việc chẳng mấy dễ dàng. Thế mà cô vẫn kiên nhẫn, dịu dàng, ngồi xuống bên cạnh, chỉ từng câu từng dòng. Căn phòng nhỏ khi ấy lúc nào cũng có tiếng lật sách, tiếng ngòi bút đều đều trên trang giấy, đôi khi xen những câu bông đùa, hỏi han của trò khiến cô cười. Cô Quế hay mua kẹo cho cả lớp. Thuở ấy, những que kẹo mút theo “mốt” phim Hàn Quốc luôn khiến chúng tôi thích thú. Cô lại càng vui khi nhìn cả lớp ríu rít như đám sẻ ri. Rồi cô lấy chồng. Chồng cô là thầy Minh, giáo viên thể dục của trường. Ngày vui của cô, cả lớp đi dự. Cô giáo chủ nhiệm vốn vẫn đứng trước bảng, vẫn gọi tên từng đứa, vẫn mua kẹo cho cả lớp, bỗng trở thành cô dâu. Chúng tôi hân hoan trong cảm giác thật lạ lùng, rồi rưng rưng xúc động, hóa ra cô cũng có một cuộc sống riêng ngoài mái trường này. Xe hoa đi phía trước. Qua ô cửa kính, tôi nhìn thấy cô. Cô vốn mảnh mai, trong chiếc váy cưới càng trở nên thanh thoát. Khuôn mặt cô trang điểm nhẹ, mái tóc được bới lên, thả những lọn xoăn duyên dáng xuống gáy. Vẫn là cô, mà bỗng nhiên xa quá. Tôi không hiểu vì sao mình có cảm giác ấy. Có lẽ bởi chúng tôi quen cô với hình ảnh giản dị, chiếc xe đạp và những trang giáo án. Chúng tôi vẫn gọi cô, trêu cô trong đoàn xe. Rồi cô khóc. Cả lớp cứ nhìn nhau, có đứa tinh nghịch còn thốt lên: “Chắc cô khóc vì vui quá khi lấy được chồng!”. Cả đám cười ầm. Cô vừa khóc vừa cười, đưa tay lau nước mắt.
Sau đám cưới, cô vẫn ở trọ gần trường. Vẫn chiếc xe đạp và những buổi đến lớp, dạy kèm đều đặn. Học sinh khó khăn, cô không bao giờ thu phí, thi thoảng còn tặng quà là sách vở, đồ lưu niệm. Ngày ấy, chúng tôi đâu biết cuộc sống của gia đình trẻ có bao nhiêu thứ phải lo. Càng không biết phụ nữ trẻ như cô vừa làm nghề giáo, vừa xây dựng gia đình, lại vẫn dành phần lớn thời gian còn lại cho học trò sẽ áp lực đến mức nào. Cho tới một ngày, chúng tôi không thấy cô đến lớp. Tiếng trống điểm giờ học, mấy đứa lạch xạch ghế kéo, trêu ghẹo nhau còn chưa dứt thì cô giáo khác bước vào. Bên dưới bắt đầu chộn rộn. “Cô Quế đâu?” Tan học, lũ chúng tôi nhìn nhau rồi rủ nhau đến nhà trọ. Căn phòng cô ở gần trường, đi bộ một đoạn là tới. Con ngõ nhỏ hôm ấy bỗng dài hơn mọi ngày. Cánh cửa khép hờ. Chúng tôi đứng ngoài, gọi khẽ, không có tiếng cô trả lời như bao lần. Bước vào trong, tôi thấy căn phòng nhỏ im ắng đến lạ. Những cuốn sách vẫn xếp trên bàn, vài quyển vở của học sinh còn để mở, xe đạp dựng bên tường vôi và chiếc khăn lụa tím cô vẫn quàng vắt trên mắc. Ánh sáng từ ô cửa nhỏ rọi vệt nhàn nhạt trên nền nhà.
Cô vừa chợp mắt. Chúng tôi e ngại đứng quanh, chẳng đứa nào nỡ nói năng gì. Cô xanh xao hơn cả lần đau ốm mà chúng tôi đến thăm trước đó. Nhìn cô lúc ấy, tôi mới nhận ra căn phòng nhỏ đến thế và cô thì gầy đến thế. Cô vừa trải qua nỗi mất mát của người sắp được làm mẹ mà chúng tôi còn quá trẻ để hiểu hết. Mở đôi mắt khép hờ, thấy chúng tôi, cô vẫn nhoẻn cười. Cô hỏi từng đứa, chuyện học hành ra sao, ở nhà thế nào, cả những chuyện vụn vặt trường lớp. Không ai nhắc đến điều buồn đã xảy ra. Có lẽ cô cũng không muốn chúng tôi băn khoăn. Chúng tôi ngồi trong căn phòng trọ nhỏ, nói những câu chuyện chẳng đầu chẳng cuối, cố làm cho buổi thăm cô giống như mọi lần. Tôi nhớ nhất là lúc cô cười. Cô đã xanh xao đến thế mà nụ cười vẫn dịu dàng. Sau này ngẫm lại, tôi mới thấy có những nụ cười đã nở vì trước mặt mình là những người họ rất thương yêu và không muốn nỗi buồn của mình làm người khác buồn theo.

Sau này cô chuyển về nhà chồng, ở xa trường hơn. Tôi nhớ khu vườn nhà cô. Một khu vườn đẹp, xanh và yên tĩnh. Không còn là căn phòng trọ nhỏ gần trường ngày trước, nhưng việc cô dành thời gian cho học sinh dường như chẳng thay đổi. Có một hình ảnh tôi nhớ mãi về gia đình cô, đó là mẹ chồng cô nấu cơm cho chúng tôi ăn. Đám học trò đến nhà ôn thi, được bà nấu cho những bữa cơm ấm áp và tươm tất. Ăn xong, bà không cho ai làm gì, vui vẻ thu dọn, đi rửa bát, còn cô ngồi lại với học trò. Chúng tôi mở sách, cô giảng bài, ngoài kia cây lá xôn xao.
Tôi vốn là đứa học trò được cô quan tâm, bồi dưỡng. Cô tin tôi, đưa cho tôi nhiều đề bài khó, những cuốn sách cần đọc thêm và cô cũng thường ngồi lại sau giờ học để giảng giải điều tôi chưa hiểu. Được cô ưu ái, nhưng không có nghĩa tôi chưa từng làm cô buồn. Nhiều đợt cao điểm trong kỳ thi học sinh giỏi, tối tối cô gọi điện về nhà hỏi tôi học hành thế nào. Mẹ tôi nghe điện thoại, thản nhiên: “Cháu nó ngủ rồi cô ạ!”. Sau này, tôi mới biết cô còn giữ tất cả những bài kiểm tra, bài thi của tôi. Từng trang giấy đã ngả màu theo năm tháng, nghiêm ngắn nét chữ cô phê bằng mực đỏ bên lề. Cô giữ cả những trang lưu bút của lớp tôi, từng dòng chữ học trò viết vội cho nhau trước ngày chia tay, từng dòng tên, lời chúc tưởng mong manh đến mức chỉ đủ neo lại một mùa hè.
Nghề giáo vẫn đưa cô đi qua hết lớp học này đến lớp học khác. Sau này cô chuyển công tác, lại có những lớp học sinh mới. Cô miệt mài nghiên cứu, ra đề, dìu dắt bao thế hệ. Trò cũ mỗi người một phương. Cuộc sống cuốn đi, đứa ở lại quê, đứa tha phương, đứa bận rộn trong vòng xoáy gia đình, công việc. Bao cuộc hẹn cứ sôi sùng sục, nóng hôi hổi rồi lỡ một cách lãng xẹt. Lần hội khóa vừa qua, lớp không quy tụ được, tôi biết cô buồn và cô đã chờ cho tới ngày cuối cùng các lớp đăng ký theo danh sách trở về. Cô nhắn cho tôi, miên man tâm trạng nhưng vẫn lời lẽ chừng mực, không làm tôi khó xử. Tôi luôn hiểu phía sau câu chữ bình thản là nỗi buồn thật khó diễn tả. Rồi bỗng cay mắt nhớ những ngày cô dãi dầu mưa nắng đi tìm học trò. Bao nhiêu năm sau, chúng tôi đi xa, cô vẫn chờ một cuộc trở về. Chỉ có điều lần này, cô không đi tìm nữa. Chỉ lặng lẽ chờ đợi và giữ niềm tin trong nụ cười đôn hậu.
Có một lần cô lên Hà Nội, đến nhà xuất bản để xin xác nhận cho một công trình mà ngày còn là sinh viên, cô từng đứng tên. Việc không lớn, chỉ là thủ tục cần hoàn tất, vậy mà hôm ấy, cô bước vào trong vẻ rụt rè. Cô chờ tôi trong quán cà phê, mang theo giỏ trứng gà, hoa quả từ vườn nhà. Vừa gặp tôi, nhắc đến việc cần xin xác nhận, giọng cô hơi băn khoăn, run run: “Chẳng biết người ta có tiếp mình không em nhỉ?” Tim tôi chợt nhói lên. Một cô giáo đã đứng lớp bao năm tháng, dìu dắt bao thế hệ học trò, vậy mà trước những cánh cửa khác trong cuộc đời vẫn cứ sợ mình làm phiền người khác. Tôi động viên cô cứ yên tâm, để tôi liên hệ. Cô vẫn ngồi chờ, hai tay đặt lên chiếc túi. Thỉnh thoảng cô lại hỏi nhỏ: “Có được không em?”. Tôi gọi điện, liên hệ nhà xuất bản, trình bày việc của cô. Khi mọi chuyện được thu xếp, tôi quay lại báo, cô hơi ngỡ ngàng. Cô nhìn tôi một lúc rồi cười, mắt rưng rưng. Tôi chợt thấy cô nhỏ bé trong dáng điệu rụt rè, nhã nhặn. Cô cảm ơn đến mấy lần, rồi lại hỏi tôi có làm phiền công việc không. Tôi bất giác nghĩ về mẹ mình, cũng mang đủ trứng gà, hoa quả, ngồi chờ con thu xếp việc và lúc nào cũng vừa vui vừa ngại. Ngày ấy cô đi tìm trò. Chúng tôi chẳng biết sợ cô hay thương cô nhiều hơn. Còn khoảnh khắc hôm ấy, đến lượt tôi muốn cô đừng sợ, đừng ngại một điều gì. Tôi muốn cô tin rằng, dù những đứa học trò năm nào đã như lũ chim tung cánh đi xa, vẫn có những cánh cửa cô không cần đứng ngoài chờ đợi, bởi cô đã mở cho chúng tôi quá nhiều cánh cửa trong đời.
Lữ Mai – Khoá 23 Trường THPT Hoàng Lê Kha, xã Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá
