Trong bài thơ “Có một nghề như thế”, tác giả Đinh Văn Nhã đã gieo vào tâm hồn người đọc những vần thơ vô cùng xúc động:
“Có một nghề bụi phấn bám đầy tay
Người ta bảo đó là nghề sạch nhất
Có một nghề không trồng cây vào đất
Lại nở cho đời những đóa hoa thơm.”
Đã bao lần ngồi dưới lớp, ngắm nhìn những hạt bụi phấn li ti rơi rơi trên bục giảng, trái tim tôi lại ngân lên những nhịp đập bồi hồi khi nghĩ về câu thơ ấy. Người ta thường ví thời gian như một dòng chảy vô tình, cuốn trôi đi tất cả, nhưng có một thứ mà thời gian chẳng thể làm phai mờ, đó chính là tình yêu thương và sự tận tụy của người lái đò đối với thế hệ học trò. Cô không chỉ là người đứng trên bục giảng truyền thụ những con chữ, những bài thơ, mà cô còn là người tưới tắm tâm hồn tôi; âm thầm, lặng lẽ, dùng cả thanh xuân của mình để bắc những nhịp cầu tri thức. Người âm thầm thổi bừng lên ngọn lửa và hạt mầm của tình yêu, cảm xúc, cùng cả những rung động đẹp nhất trong trái tim tôi, không ai khác chính là cô giáo Đặng Bích Ngọc.
Nếu có ai đó hỏi tôi về bước ngoặt lớn nhất đã thay đổi thế giới quan của bản thân dưới mái trường trung học, tôi sẽ không ngần ngại lật mở thước phim kí ức của những năm tháng lớp 6. Đó là một buổi chiều đầy gió đầu tiên của cấp hai. Tôi bước vào lớp với tâm thế của một đứa trẻ quen được nuông chiều trong sự tán dương, mang theo một túi hành trang đầy những suy nghĩ ngây ngô và định kiến về môn Văn. Trong hình dung của tôi ngày ấy, văn học là một thế giới của những điều khô khan, của những khuôn mẫu rập khuôn mà học trò phải thuộc lòng như một cái máy. Nhưng sự xuất hiện của cô đã đập tan bức tường định kiến đó. Cô không bắt chúng tôi phải ghi chép những bài học vĩ mô xa rời thực tế, cũng không biến bục giảng thành nơi độc thoại của những lý thuyết suông. Những bài giảng của cô luôn gắn liền với hơi thở của cuộc sống hằng ngày, nơi một chiếc lá rơi, một ánh mắt nhìn hay một câu chuyện góc phố cũng có thể trở thành chất liệu nghệ thuật đầy sống động. Ở cô, có một sự dung hòa đến kỳ lạ: một mặt cô cực kỳ thân thiện, bao dung cho những nét bút nguệch ngoạc đầu đời của chúng tôi; mặt khác, cô lại là một người vô cùng nghiêm khắc, kiên quyết uốn nắn từng dấu phẩy, từng tư duy lệch lạc. Sự nghiêm khắc ấy không phải để áp đặt, mà là cái nghiêm của một người thợ gốm lành nghề, biết đâu là giới hạn để đất sét không bị biến dạng trước khi vào lò lửa.
Thế nhưng, chặng đường học hỏi và hoàn thiện bản thân chưa bao giờ chỉ có những chuỗi ngày phẳng lặng êm đềm. Bước sang năm lớp 7, khi cái tôi tuổi học trò bắt đầu lớn dần cùng những suy nghĩ có phần nông nổi, tôi đã nhận được những lời răn dạy thầm lặng nhưng đi sâu vào tâm khảm từ người thầy kính yêu. Vốn là một đứa trẻ có chút năng khiếu viết lách, tôi luôn tự dệt cho mình những hào quang ảo tưởng, phóng bút tạo nên những câu chữ mà bản thân tự cho là bay bổng, hoa mĩ. Tôi say sưa trong thế giới của những lâu đài bóng bẩy, để mặc cho cảm xúc của mình trượt dài trên những trang giấy mà quên mất giá trị cốt lõi của một bài văn. Để rồi một ngày, khi lật mở trang vở nhận lại bài, tôi hoàn toàn khựng lại trước những dòng nhận xét nắn nót, nghiêm ngắn mực đỏ của cô: “Bài viết còn lan man, quá bay bổng và cần thêm dung hòa giữa cái chất văn chương và sự thực tế, con nhé!”.
Lời nhắc nhở ấy nhẹ nhàng thôi, không một câu trách phạt nặng lời, nhưng lại như một nốt lặng khiến một đứa trẻ vốn tự tin như tôi thoáng chút chạnh lòng, bối rối và đầy hụt hẫng. Suốt cả buổi học hôm đó, tâm trí tôi trĩu nặng những suy nghĩ hoang mang, nửa như tự ái, nửa như tự hoài nghi về năng lực của chính mình. Tôi thu mình vào góc lớp, lồng ngực nghẹn đắng một nỗi tủi thân vô cớ của cái tuổi dở dở ương ương. Nhưng cô đã không để đứa học trò của mình chìm trong mớ hỗn độn của sự thất vọng ấy. Nhìn thấu chút tâm tư thầm kín qua dáng vẻ thu mình của tôi, khi các bạn còn đang cặm cụi hoàn thiện bài, tôi đã xong, cô nhẹ nhàng gọi tôi lại bên bàn giáo viên. Cô không bắt tôi phải sửa bài theo một khuôn mẫu có sẵn. Cô chỉ lặng lẽ lật mở lại những trang viết cũ, chỉ cho tôi thấy cái đẹp thực sự của văn chương vốn dĩ phải bắt nguồn từ những điều bình dị, chân thật nhất trong cuộc sống.
Ngay trong giây phút tôi cúi đầu định thốt ra lời xin lỗi, tôi bỗng khựng lại trước một hành động của cô. Không một lời trách mắng, cô lặng lẽ cầm chiếc gôm nhỏ, cẩn thận và kiên nhẫn tẩy đi những đoạn viết lan man, những câu chữ hoa mĩ rỗng tuếch. Từng nét, từng nét một, cô gạt bỏ đi lớp vỏ bọc kiêu ngạo của tôi một cách đầy thận trọng. Những hạt bụi gôm li ti rơi xuống, trộn lẫn với những hạt bụi phấn trắng xóa bám đầy trên những ngón tay gầy gầy của cô. Cô chỉ lặng lẽ quệt đi giọt nước mắt tự ái đang lăn dài trên má tôi, giọng cô trầm xuống dịu dàng
“Con biết không, cô khắt khe với bài văn này, không phải vì muốn phủ nhận con, mà bởi vì cô muốn trân trọng năng lực và tố chất văn chương sẵn có trong con. Cô mong nét bút của con giống như một cái cây, đôi cánh có thể tự do bay bổng đón gió, nhưng bộ rễ thì nhất định phải cắm thật sâu vào lòng đất thực tế. Chỉ khi mang hơi thở phong trần của cuộc đời vào trang sách, văn của con mới có thể chạm đến trái tim người đọc”.
Lời thủ thỉ mang nặng tâm tình từ trong ruột gan cùng hình ảnh những hạt bụi gôm hòa vào bụi phấn ấy giống như một luồng năng lượng vô cùng mạnh mẽ chạy thẳng vào tim, làm tan chảy hoàn toàn cái tôi bướng bỉnh. Tôi nhận ra đằng sau nét mực đỏ phê bình và hành động kiên nhẫn gọt giũa kia chưa từng có một định kiến nào, mà hoàn toàn là tình yêu thương thầm lặng che chở, nâng đỡ để tôi từ một kẻ yêu văn chương nhưng vô định trở nên tốt hơn, bản lĩnh hơn ngày hôm qua.
Giờ đây, bánh xe thời gian đã lăn bánh đưa tôi đi qua gần hết chặng đường thời niên thiếu. Những ngày tháng được ngồi dưới mái trường này chỉ còn vỏn vẹn hơn một năm ngắn ngủi. Đứng ở ranh giới của sự chia xa, nhìn những vạt nắng cuối chiều nhuộm vàng bục giảng trống, trong lòng tôi lại dâng lên nỗi niềm thổn thức và nhớ nhung da diết. Càng cận kề ngày rời xa, tôi lại càng thấm thía và trân trọng hơn bao giờ hết những lời nhắc nhở, những nét mực đỏ khắt khe năm ấy của cô. Nếu ngày ấy không có sự kiên quyết uốn nắn của cô, có lẽ tôi vẫn mãi chỉ là một đứa trẻ ngạo mạn, loay hoay trong cái vỏ bọc hoa mỹ của chính mình mà chẳng thể trưởng thành.
Mỗi ngày đến lớp lúc này đối với tôi đều trở thành một thước phim quay chậm vô giá. Tôi nâng niu từng lời giảng, trân trọng từng phút giây được nhìn dáng hình thân thương của cô trên bục giảng.

Ý thức về sự chia ly khiến tôi nhìn cô bằng một đôi mắt rất khác. Tôi không chỉ nhìn thấy một người giáo viên đầy bản lĩnh trên bục giảng, mà còn nhìn thấy một người mẹ hiền thứ hai trong cuộc đời mình; vừa sẵn sàng nghiêm khắc dùng roi vọt uốn nắn khi con đi sai đường, lại vừa là người duy nhất nhìn thấu những vết rạn thầm kín trong tâm hồn đứa trẻ mười mấy tuổi đầu để che chở, nâng niu.
Tôi nhớ cả những giờ sinh hoạt lớp ấm áp, cô vẫn hay đứng trên bục giảng, ánh mắt lấp lánh niềm vui rồi bật cười trêu cả lũ:“Cái bọn này, đứa nào cũng ngang bướng như quỷ nhỏ, nhưng dẫu có nghịch thế nào thì vẫn cứ là những đứa con báu vật của cô thôi!”. Lời trêu đùa ngày ấy khiến cả phòng học rộn rã tiếng cười, nhưng phải đến những ngày cuối cấp này, khi lồng ngực thắt lại vì sắp phải chia xa, tôi mới hiểu câu nói ấy đằm thắm và thiêng liêng đến nhường nào. Sự thấu hiểu không lời, ánh mắt lo lắng khi thấy tôi xuống dốc, và nụ cười rạng rỡ khi thấy tôi tiến bộ… tất cả những điều bình dị ấy của cô đã sưởi ấm cho thanh xuân của tôi, cho tôi một điểm tựa gia đình thứ hai thiêng liêng ngay dưới mái trường này.
Đào Tùng Lâm – Lớp 8A, THCS Thái Thịnh, P. Đống Đa, Hà Nội
