Văn Cao bậc kì tài làm nên lịch sử (Kỉ niệm 72 năm ngày giải phóng thủ đô 10/10/1954-10/10/2026)

Văn Cao bậc kì tài làm nên lịch sử (Kỉ niệm 72 năm ngày giải phóng thủ đô 10/10/1954-10/10/2026)

Chắc cũng hiếm có tác giả Quốc ca nào như Văn Cao vừa là chiến sĩ vừa là một nghệ sĩ, nhạc sĩ thực thụ. Người sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc đồng thời để lại cho nền nghệ thuật nước nhà những dấu ấn sâu đậm. Trong đời thường, ông cũng là một tấm gương vượt lên nghịch cảnh, giữ vững phẩm giá con người.

“Đặt hàng” của Cách mạng

     Tháng 10, trong số những giai điệu vang lên mừng ngày giải phóng thủ đô không thể thiếu Tiến về Hà Nội– sáng tác nổi bật trong sự nghiệp lẫy lừng của tác giả Quốc ca. Bài hát kết hợp được cả hai thế mạnh trữ tình và hùng tráng trong phong cách của tác giả. Đúng như những gì người “đặt hàng” mong muốn.

     Cuối năm 1948, Văn Cao được điều động về công tác tại Chi hội Văn nghệ Liên khu 3 ở Ứng Hòa, Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội), nhiệm vụ được giao là viết bài hát cho Hà Nội. Văn Cao kể: “Tối hôm ấy, tôi đã cùng ăn cơm với anh Lê Quang Đạo. Anh Đạo đã nắm chặt tay tôi và nói: ‘Những ca khúc của cậu làm tôi rất xúc động. Nhất là bài Làng tôi và bài Trường ca sông Lô. Nét nhạc và lời ca thơ mộng lắm. Làm tôi rất nhớ Việt Bắc. Dù sao thì chất lãng mạn của cậu vẫn không thay đổi. Không những lời ca hay mà nét nhạc lại rất du dương và hùng tráng nữa chứ. Vậy nếu cậu yêu Hà Nội, nhớ Hà Nội thì hãy sáng tác cho Hà Nội một bài hát vừa hùng tráng, vừa trữ tình nhé!’.”

     Tan họp, ông Lê Quang Đạo (khi đó là Bí thư Thành ủy Hà Nội) còn khoác tay Văn Cao đi trên đường làng một quãng dài để cho nhạc sĩ biết: “Khẩu hiệu của Trung ương là tất cả cho tổng phản công, nhưng nếu có một bài hát cho Hà Nội đầy tình cảm cũng là mơ ước của những người dân Thủ đô”. Và những nét nhạc đầu tiên “Trùng trùng quân đi như sóng/ Lớp lớp đoàn quân tiến về…” đã đến với Văn Cao ngay đêm sáng trăng đó, khi đi dọc đường làng. Khi bài hát mới vang lên, có người phê phán nó là “lạc quan tếu”. Hẳn họ không biết Văn Cao đã nắm trước được diễn biến đại cục. Cũng vì Văn Cao tưởng tượng giỏi quá, ông viết về một sự kiện phải 6 năm sau mới diễn ra mà khiến cho nó như hiển hiện trước mắt người nghe.

     Tiến quân ca ra đời cũng từ nhiệm vụ tổ chức giao phó: Một bài hát cho khóa Quân chính kháng Nhật ở chiến khu Đông Triều. Tác giả tự hoạch định sẽ phải viết thế nào “để cho những người chân đất có thể vừa đi vừa hát, có thể đứng nghiêm (trước lúc xuất quân) mà hát không mỏi chân” (theo Hoàng Phủ Ngọc Tường).

     Năm 1944, Văn Cao lên thủ đô những mong gây dựng một tên tuổi trong hội họa khi đã nổi tiếng qua các nhạc phẩm Buồn tàn thu, Thiên thai, Trương Chi… Tranh của ông 2 lần được triển lãm, được đánh giá cao nhưng không thể bán. Người ta xuất bản các tờ nhạc, in thơ và truyện ngắn của ông nhưng không trả nhuận bút. Văn Cao được vài người bạn họa sĩ nuôi cơm và ở nhờ chính nhà của người đã giúp ông xuất bản các tờ nhạc. Người này được ông ghi vào Tiến quân ca bản in lần đầu dưới bút danh Anh Dũng như tác giả phần lời, còn bản thân ông là Anh Thọ. Văn Cao giải thích, đây là một biện pháp nghiệp vụ để người kia có ý định “phản bội” thì cũng không dám vì đã trót đứng tên chung. Trước đó tờ nhạc Thăng Long hành khúc ca còn in rõ “Nhạc điệu Văn Cao/ Lời ca Đỗ Hữu Ích”- là tên thật của người kia. “Đây là một phép trong hoạt động bí mật. Buộc phải đề phòng mọi khả năng… Tiến quân ca khi đó mới chỉ là bài ca của quân cách mạng. Người sáng tác bài ca là kề với cái chết bất kỳ lúc nào. Tôi để anh Ích đứng chung bằng mật danh là để bảo vệ bài ca này,” Văn Cao nói với nhà nghiên cứu Nguyễn Thụy Kha.

     Đáng chú ý, tiền thân của Quốc ca được viết vào lúc Văn Cao đang sục sôi ý chí chiến đấu hơn là có cảm hứng nghệ thuật. Khi đó chàng nghệ sĩ 21 tuổi đang chờ nhận một khẩu súng và tham gia đội vũ trang, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm hy sinh mà “không chuẩn bị để quay lại làm bài hát”. Thế nhưng một ánh mắt của một bé gái cỡ lên ba lê la không manh áo bên những người đang đói đâu đó gần Bờ Hồ đã làm ông phải trào nước mắt trong buổi tối tản bộ. Ánh mắt ấy làm ông nhớ đến cháu gái mình mới mất tích dọc đường tản cư. Đêm đó về gác trọ, Văn Cao đã viết xuống những nét nhạc đầu tiên của Tiến quân ca.

Sống như một nghệ thuật

     Văn Cao từng tâm sự với Hoàng Phủ Ngọc Tường về lựa chọn giữa làm nghệ thuật và chiến đấu. Ông cho hay từ 1941, đã “làm cảm tình cách mạng” nhưng vẫn chưa muốn tham gia hẳn vì còn vương vấn nghệ thuật. Nhưng trước thời điểm nhận lời viết Tiến quân ca, ông đã thấy “nghệ thuật không còn ngóc ngách nào để sống” khi cái đói đang bao trùm. Là nghệ sĩ, ông cảm nhận nạn đói cả ở địa hạt tinh thần.

     Những gì đã diễn ra cho thấy nghệ thuật của Văn Cao đã gắn bó chặt chẽ với đời sống, nhất là trong những khoảnh khắc có tính sống còn. Văn Cao đã nói lên được tiếng nói của triệu triệu người Việt lúc đó đang thấy cần phải đứng lên đòi quyền sống, đòi tự do và độc lập. Như lời gốc của bài hát đã khắc họa: “Tiến lên, cùng thét lên/ Chí trai là đây nơi ước nguyền”.

     Nếu nói về chất nghệ sĩ, khó ai có thể hơn Văn Cao. Nhưng xét về những phẩm chất tráng sĩ, ông cũng không kém ai. Có lẽ để dung hòa quá nhiều ưu việt trong một con người là việc vô cùng khó. Phải có nhân cách lớn như Văn Cao mới làm nổi. Và ông chấp nhận nhận thua thiệt về mình suốt một thời gian dài không sáng tác, chỉ vẽ minh họa cho báo hay trang trí sân khấu, làm nhạc cho phim, kịch, chèo… để nuôi vợ con.

     Văn Cao kể với Hoàng Phủ Ngọc Tường, về cuộc viếng thăm gia đình người đã bị ông ám sát khi làm nhiệm vụ của một biệt động: “Những ngày đầu sau chiến tranh, tôi trở lại căn nhà ấy, thấy còn lại một gia đình mẹ góa con côi. Làm sao tôi có thể nói điều cần thiết nhất đối với tôi trong những bài hát sau đó? Nói về chiến công, hay phải nói một điều gì khác? Nên tôi im lặng, và chỉ viết nhạc không lời”.

     Cuộc sống với bất cứ ai đều là một chuỗi lựa chọn. Với những tâm hồn lớn, nhân cách lớn- những lựa chọn hẳn cũng lớn theo. Kiểu đỉnh càng cao thì gió càng mạnh… Hay có khi chính những lựa chọn góp phần làm nên nhân cách. Rõ ràng nếu Văn Cao chọn theo hướng khác, ông sẽ viết những tác phẩm khác, đề tài khác. Và như vậy nhiều khả năng ông sẽ không phải là tác giả Quốc ca Việt Nam, không phải một nhạc sĩ/nghệ sĩ được đồng nghiệp và nhân dân thương quý, nể trọng.

    Sự nghiệp đứt gãy của Văn Cao khiến nhiều người phải ngậm ngùi tiếc nuối. Nói về Văn Cao, Thái Bá Vân: “Những gì anh chưa làm được còn nhiều hơn những gì anh đã làm”; Vũ Bằng: “Một người như anh mà có hoàn cảnh thuận lợi, có tư cách để học hỏi thêm, để trau dồi thêm cái tài trời cho để đem áp dụng vào các ngành văn nghệ, thì sự hứa hẹn còn to lớn không biết bao nhiêu”; Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Chân trời mới của nghệ thuật hiện đại, chính Văn Cao nhìn thấy rất sớm, nhưng ông đã không đi tới được. Đó là mất mát chung của cả đất nước không phải chỉ riêng Văn Cao”. Chính Văn Cao cũng tiếc nuối vì chưa để “con ngựa thứ ba” là hội họa được sải vó. Song đã gọi là con người của nghệ thuật, thì đời sống cũng chính là cách họ thi triển nghệ thuật một cách tự nhiên nhi nhiên. Di sản Văn Cao để lại cho chúng ta mặc nhiên bao gồm cả cuộc đời ông đã sống.

Thiên tài từ Thiên thai

     Văn Cao tưởng tượng về không khí giải phóng thủ đô trong bài hát và sự thực đã diễn ra đúng như vậy. Nhưng khi Văn Cao viết về cõi mộng- nơi mà không ai kiểm chứng được thì mọi người cũng vẫn phải công nhận, Thiên thai của Văn Cao là thiên thai nhất. Nhạc phẩm được hoàn tất khi tác giả mới 18 tuổi. Phải có một tâm hồn lãng mạn, một sức tưởng tượng, nhập vai mãnh liệt tới nhường nào để khắc họa được một cõi giới hoàn mĩ bằng nhạc và thơ như vậy. Và có khi tác giả cũng phải chín vào đúng độ tuổi ấy mới có thể bắt kịp những nhịp phách mơ hồ từ chốn bồng lai… “Tôi nói đến Thiên thai là bởi vì một nơi, một cõi nào đó người ta coi như đất hứa mà cái đất hứa ấy thì không ai tìm được trên cái cõi thế gian này, đi tìm mãi trong những cái hoài niệm của mình tuổi thanh niên thì nhớ ra rằng có lần tìm ra được,” trích lời của Văn Cao trong phim tài liệu Văn Cao – Giấc mơ một đời người (đạo diễn Đinh Anh Dũng, 1992).

Văn Cao sinh trưởng nhằm thời kì đang dấy lên những làn sóng mới trong thi ca, âm nhạc, hội họa… Và ông cũng bộc lộ rõ những phẩm chất của người vượt sóng và tạo sóng. Kể từ bài hát đầu tay Buồn tàn thu (1939) tới Trường ca sông Lô (1948), Văn Cao mất chưa đầy 10 năm để đưa tân nhạc Việt đến đỉnh cao. Kế đó là 2 thập kỉ không cất lên một tiếng hát nào. Thay vào đó, ông dùng thơ để biểu đạt nhưng cũng hết sức kiệm lời. Những dồn nén của ông trong thơ vẫn khiến người đọc phải suy ngẫm đến tận bây giờ. Với thơ, ông cũng tiến rất nhanh từ lãng mạn, hiện thực tới tượng trưng, phản ánh sự dịch chuyển chung của thơ Việt, song riêng ông vẫn có phần đi trước thời đại.

     Để tiếp cận được cõi thiên thai của nghệ thuật, cũng là nhờ Văn Cao được học nhạc từ sớm trước khi bão tố cuộc đời giáng xuống. Bố mất sớm, kinh tế gia đình sa sút và Văn Cao phải bỏ dở bậc Trung học ở trường dòng Saint Joseph. Nhưng tại đây, ông đã kịp tích cóp được khoảng 3 năm học nhạc lí và nhạc cụ. Không chỉ sáng tác, theo Nguyễn Thụy Kha, Văn Cao còn phối khí được. Cũng như để có thể chứng tỏ tài hội họa, ông phải trải qua thời gian học dự thính ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Còn võ thuật, Văn Cao đã luyện tập từ nhỏ. Tóm lại ông đã được trang bị khá đầy đủ để bước vào đời sóng gió mà vẫn hiên ngang. Ông không phải chàng nghệ sĩ lãng mạn, ngơ ngác cũng không hẳn là một vị “trích tiên” lạc bước xuống trần. Ông được lịch sử đặt vào đúng vị trí, và với tài năng tương xứng đã làm nên những đóng góp nổi bật cho lịch sử âm nhạc và cả lịch sử của dân tộc.

Nguyễn Mạnh Hà